|
Cởi bỏ bộ quân phục oai nghiêm, giã từ chốn quan trường, để lại phía sau cuộc đời mình những lớp lang kỷ niệm ngồn ngộn trong ký ức, ông trở về với cuộc sống đời thường. Căn nhà số 18 Phan Kế Bính im lìm cửa. Chủ nhân, vị tướng, vị Tư lệnh một thời ở Bộ Tư lệnh Lăng - bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh giờ đã về hưu đang chơi với cháu ngoại bi bô tập nói. Hai ông cháu rủ rỉ chuyện trò, thỉnh thoảng lại phá lên cười, như thể thế giới này chỉ còn lại hai ông cháu trong niềm hạnh phúc chật kín, vô bờ nơi ngôi nhà này.
Vị tướng về hưu tìm niềm vui trong hạnh phúc nhỏ nhoi mà bình dị, quên cả tiếng chuông cửa reo, quên cả ngoài cánh cổng sắt im lìm kia, phố xá đang náo nhiệt dòng người, quên cả nắng đang ùa vào cánh cổng thả những ánh vàng lên vườn cây cảnh xanh um tùm gió rợi.
Vậy là tròn 1 năm, Thiếu tướng, Tiến sĩ, vị Tư lệnh của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh Đào Hữu Nghĩa rời vị trí công tác ở Bộ Tư lệnh Lăng để về nghỉ hưu. Thời gian mới đó mà đã trọn một đời, ông gắn bó với công trình Lăng Bác từ ngày còn trẻ cho đến tận bây giờ. Thời gian, đời người như gió thoảng. Gặp lại ông, trong sắc phục thường dân, không mũ áo, không đạo mạo nơi tôn nghiêm nghi lễ, Thiếu tướng, Tiến sĩ Đào Hữu Nghĩa càng giản dị và gần gũi.
Nhỏ nhẹ như mọi khi, cái uy lực trong giọng nói tâm tình, trong ánh nhìn nghiêm nghị mà lành hiền dường như vẫn còn vẹn nguyên ở vị tướng đầy quyền uy. Nhưng càng ngắm ông kỹ, như ngày xưa lần đầu tiên gặp ông ở Bộ Tư lệnh Lăng, tôi đã thốt lên rằng, trông ông giống một tiến sỹ, một nhà giáo, hay một nhà khoa học hơn là một vị tướng, một vị tư lệnh. Trong ý nghĩ của tôi, đã là Tướng Tư lệnh, ít nhất nếu không "hàm én mày ngài" thì người đó cũng phải cao lớn, dáng vóc uy phong. Trong khi đó, Thiếu tướng Đào Hữu Nghĩa có vóc dáng nho nhã thư sinh, mọi biểu hiện ra bên ngoài đều mực thước, tinh tế.
Thiếu tướng, Tiến sỹ Đào Hữu Nghĩa sinh ra và lớn lên ở một vùng quê có tiếng hiếu học của mảnh đất Hưng Yên giàu truyền thống cách mạng và văn hiến. Tháng 5/1965, khi cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ đang lan dần ra Hà Nội. Chiến tranh thôi thúc những chàng trai và cô gái ra trận. Chàng học sinh Đào Hữu Nghĩa xếp bút nghiên và mơ ước của mình để lên đường. Năm ấy, người lính trẻ vừa tròn 17 tuổi.
Vào bộ đội, vóc người bé nhỏ, thư sinh, thế nhưng Đào Hữu Nghĩa đã trải qua những năm tháng thử lửa trong quân đội một cách xuất sắc. Tham gia một đơn vị chuyên xây dựng sở chỉ huy, xây dựng trận địa tên lửa, đồng thời tổ chức lực lượng đánh trả máy bay tầm thấp của địch, bảo vệ sở chỉ huy, bảo vệ trận địa tên lửa của bộ đội Phòng không không quân.
Ông tâm sự rằng: Khoảng thời gian là chiến sỹ của Quân chủng Phòng không - Không quân không dài, nhưng đã thử thách rèn luyện ông biết thích nghi, có thêm những tố chất cần thiết để vượt qua khó khăn, gian khổ, đạn bom và trưởng thành. Hơn một năm sau ngày nhập ngũ, ông được kết nạp vào Đảng.
Cuối năm 1967, ông là một trong 2 chiến sỹ của cả một trung đoàn được Quân đội lựa chọn và cử đi học ở Hungari, ngành kĩ thuật thông tin, một ngành kĩ thuật đang phát triển cao của Hungari thời ấy. Đó là một trong những ngành học khó, thuộc một trường đại học danh tiếng của châu Âu - Trường Đại học Kỹ thuật Budapest. Bên cạnh đó, tiếng Hung lại là một trong những ngôn ngữ vừa khó, vừa chưa có từ điển chính quy.
Trong hoàn cảnh đó, những người lính trẻ vừa rời chiến trường đánh Mỹ như ông, lại làm quen với môi trường mới, bắt buộc phải thích nghi nhanh chóng, cầu thị để học thật tốt, xứng đáng với đồng đội đang thay mình chiến đấu ở quê hương và sự giúp đỡ vô tư hào hiệp của bạn bè quốc tế. Khoá lưu học sinh quân sự đầu tiên tại Hungari hiểu rằng, họ học để về đánh thắng Mỹ và xây dựng đất nước.
Một kỷ niệm khó phai mờ trong những ngày trên giảng đường đại học, không ngờ kỷ niệm ấy lại gắn bó với nhiệm vụ của ông sau khi trở về nước và cho mãi tận hôm nay. Đó là những ngày đầu tháng 9/1969, tin từ trong nước báo sang sức khỏe của Bác yếu dần, và ngay sau đó là tin Bác mất đã nhanh chóng lan truyền khắp các quốc gia trên thế giới.
Điều kỳ lạ cũng giống như ở quê nhà Việt Nam, những ngày diễn ra lễ tang Bác ở quê hương, Budapest trời mưa gió liên miên. Lưu học sinh lần lượt đi viếng Bác và thay nhau túc trực theo nghi lễ bên bàn thờ Bác ở Đại sứ quán Việt Nam tại Hungari. Tất cả mọi người đều không ai cầm nổi nước mắt trước mất mát đau thương quá lớn. Cảm giác của lưu học sinh lúc đó vô cùng đau đớn, hẫng hụt, và chống chếnh như mất một điểm tựa tinh thần. Bên bàn thờ Bác, ông được tận mắt chứng kiến tình cảm thật đặc biệt của đồng bào, đồng chí, bạn bè Hungari đối với Bác Hồ.
Những ngày đó, đài truyền hình, các đài phát thanh, báo chí của bạn liên tục trang trọng đưa tin về cuộc đời và sự nghiệp của Bác, về lễ tang đang diễn ra. Thiếu tướng Đào Hữu Nghĩa không sao quên được cảm giác buổi ngày lên lớp, thiếu tập trung vì nỗi đau nơi quê hương, tối về, mở bài vở ra, nhớ đến Bác, nghĩ về Bác, về trận chiến nơi quê nhà bao nhiêu người hy sinh xương máu, nước mắt lại rơi.
Trong cuộc đời của Thiếu tướng Đào Hữu Nghĩa, có 3 lần vinh dự được gặp Bác. Hai lần đầu là dịp nghỉ hè, ra thăm bố công tác ở Hà Nội, cùng bố đứng trong vườn hoa Hàng Đậu vẫy chào Bác cùng vị nguyên thủ quốc gia đứng trên xe mui trần trên đường từ sân bay Gia Lâm về Phủ Chủ tịch. Lần thứ 3 gặp Bác ngay khi mới nhập ngũ được ít hôm, đơn vị triển khai nhiệm vụ ở sân bay Bạch Mai. Bác đến thăm mà không báo trước, xuống thẳng nhà ăn, ra trận địa pháo nói chuyện ngắn gọn và chia quà cho bộ đội.
Trong sâu thẳm tâm hồn người lính trẻ hồi đó, ông vẫn ao ước mong được gặp Bác một lần nữa, được nghe Bác động viên, căn dặn với giọng nói ấm áp, thiết tha và nụ cười hiền hậu. Nhưng mong ước ấy mãi mãi chỉ là mong ước. Đến nỗi, chàng lính trẻ Đào Hữu Nghĩa đã lưu giữ những cảm xúc đặc biệt với Bác kính yêu trong những trang "nhật ký đời bộ đội" của ông, mà khi ấy ông không thể nghĩ rằng, sau này tốt nghiệp đại học về nước ông lại có cơ hội được ở gần Bác, hằng ngày được gặp Bác cùng các đồng đội giữ yên giấc ngủ cho Người, được gắn bó với sự nghiệp giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Năm 1974, trở về nước, ông được Bộ Quốc phòng phân công công tác tại Trung đoàn 259B - Bộ Tư lệnh Công Binh, đơn vị lắp ráp các thiết bị máy móc của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Công trình đang trong thời điểm thi công rất khẩn trương, lại có yêu cầu cao về trình độ kỹ thuật, mỹ thuật. Những năm tháng tham gia xây dựng công trình Lăng, cũng như sau này được ở lại tham gia quản lý vận hành với chức trách và quyền hạn được giao, ông luôn đam mê công việc và cống hiến những gì đã học được vào sự nghiệp này.
Công việc đã cuốn hút toàn bộ con người ông. Không gì sung sướng bằng được thực hành tất cả những gì mình học được. Việc khai thác các thiết bị trong công trình Lăng tuy mới mẻ nhưng rất gần với chuyên ngành mà ông được đào tạo, thực hành. Bên cạnh khả năng nắm bắt nhanh, xử lý bài bản, kịp thời, hiệu quả các yêu cầu hoặc sự cố kỹ thuật, ông còn say mê nghiên cứu, tìm ra các phương pháp cải tiến, nâng cao, kể cả những máy móc thiết bị kỹ thuật được chuyên gia có tên tuổi coi là hoàn hảo.
Kỷ niệm về những tính toán cải tiến mạch cầu cân bằng, mạch nguồn để mở rộng thang chia độ của máy tự ghi nhập ngoại, ứng dụng bộ vi xử lý trong thiết bị đo, điều khiển nhiệt, ẩm, đặt chế độ làm việc hợp lý, tin cậy cho tổ hợp thiết bị đo nhiệt không tiếp xúc và pin làm lạnh nhiệt điện… là những dấu ấn nghề nghiệp không thể nào quên.
Cũng trong quá trình công tác ở Lăng, ông đã hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh với học vị Tiến sĩ của Hungari với đề tài: "Những phương pháp thiết kế hệ thống tự động điều chỉnh nhiều tham số có tác động qua lại lẫn nhau và khả năng ứng dụng vi xử lý".
Ông còn tranh thủ nghiên cứu rộng sang một số lĩnh vực khác mà công tác kỹ thuật ở công trình Lăng đang cần như: Tự động điều hoà thông gió; tự động hóa quá trình làm lạnh; các thiết bị đo điện và không điện… Ông còn tham gia hướng dẫn nghiên cứu sinh cho các thực tập sinh ở các Trường Đại học Bách Khoa, Xây Dựng v.v… Ngoài ra, ông trực tiếp tham gia làm chủ một số đề tài nghiên cứu cấp Bộ Quốc phòng. Các đề tài này đã được ứng dụng và mang lại hiệu quả thiết thực.
Trưởng thành dần từ vai trò của một kỹ sư điện, lên đến vị trí cao nhất là Trưởng ban - Ban Quản lý Lăng, kiêm Tư lệnh, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thiếu tướng Đào Hữu Nghĩa đã dành nhiều thời gian, đầu tư, tâm huyết cho công tác y tế giữ gìn thi hài Bác, công tác đảm bảo an ninh, đón tiếp, tuyên truyền và công tác bảo đảm cảnh quan môi trường ở công trình Lăng Hồ Chủ tịch. Năm 2004, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới.
Riêng cá nhân ông vinh dự được Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Quân công hạng ba, Huân chương Chiến công hạng hai, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng ba, Giải thưởng Nhà nước về khoa học - công nghệ và nhiều huân, huy chương khác. Trong cuộc đời riêng, ông là người hạnh phúc khi có người vợ hiền, hiểu và là hậu phương vững chắc của ông, có hai con một trai một gái đều thành đạt. Tôi thấy trong đời thực, hiếm có một bức chân dung nào hoàn hảo như ông khi có một cuộc đời và số phận chỉ có thăng mà không có trầm như ông đã từng thừa nhận.
Trong một buổi sáng bình yên, trải lòng mình cùng tôi về đoạn đời hơn 40 năm trưởng thành trong quân ngũ và gặt hái được nhiều chiến công, nhiều vinh quang, Thiếu tướng, Tiến sĩ Đào Hữu Nghĩa vô cùng xúc động. Giờ đây, rời bỏ công việc mà ông đã gắn bó máu thịt trong suốt cả cuộc đời mình, nhiều lúc ông rơi vào cảm giác hẫng hụt.
Nhớ Bác, nhớ gương mặt Người nằm đó thanh thản trong những lần đồng bào viếng thăm, nhớ những sự kiện, những kỷ niệm liên quan đến Bác, lòng ông lại cồn cào những cảm xúc không nói nên lời. Có nhiều hôm nhớ Bác, ông lại lững thững vòng xe về qua Công trình Lăng, đứng lặng ngắm những bồn hoa, những vườn cây cảnh mà tự tay ông chỉ đạo ươm trồng. Ngắm toàn bộ cái công trình mà gần 40 năm qua ông miệt mài cùng đồng đội góp công góp sức cống hiến, chăm chút, nước mắt ông lại trào ra.
Về hưu nhưng không hiếm lời mời làm việc, lại bận rộn như lúc đang chức nhưng dẫu bận đến mấy, dẫu tìm thấy niềm vui trong công việc và cuộc sống hiện tại thì trong tâm hồn ông vẫn thường trực một nỗi nhớ. Nhớ Bác, lòng ông sẽ sáng trong hơn. Ông tâm niệm vậy
|