NGHỆ SĨ NHÂN DÂN ĐÀO MỘNG LONG
Hơn bảy chục năm trên kịch trường, dâng hiến trọ vẹn tinh hoa nghệ thuật cho nhân dân mình, đất nước mình không hề ngưng nghỉ với niềm đam mê, một mong ước lớn: cuộc đời phải tốt đẹp hơn, con người phải yêu thương nhau hơn, chân trời hi vọng bừng sáng hơn. Chúng tôi thực sự chưa biết có nghệ sĩ nào có tấm lòng thánh thiện như thế, dằng dặc thời gian mải miết cho sân khấu nước nhà, có nghệ danh đẹp như Đào Mộng Long.
Ông là nghệ sĩ đa năng, sáng tác, đạo diễn nhiều loại hình sân khấu như kịch nói, kịch thơ, kịch dân ca, ca kịch cả lương và nhiều ca khúc trong kháng chiến chống Pháp. Với tư cach là người viết, Đào Mộng Long để lại 3 kịch bản rất đáng trân trọng ghi nhận. Từ câu chuyện “Hai chị em” do nghệ sĩ Tư Chơi kể cho nghe, ông viết thành vở cải lương “Học làm sang”.
Đoàn cải lương Nam Hồng diễn từ năm 1943 khắp miền Trung và miền Nam, sau này chỉnh sửa đặt tên là “Tiền và Nghĩa”. Đoàn cải lương Hải Phòng do chính tay ông dàn dựng diễn suốt từ năm 1957. Vở diễn cảnh báo lối sống trọng phú kinh bần, chạy theo địa vị giàu sang mà quên cả tình nghĩa quê hương, cha con, vợ chồng. Vở cải lương “Kêu cứu” viết năm 1952, đoàn cải lương Nam Hồng du diễn khắp Nam Bắc. Năm 1960 ông dàn dựng cho đoàn cải lương Phương Đông – Hải Phòng, mấy thế hệ diễn viên thành phố cảng gần hai chục năm đạt hơn 1.600 suất diễn.
Tác phẩm là lời kêu cứu đau đớn đến xé ruột trước sự tác oai tác quái của đồng tiền. “Tiếng đồng tiền gõ cửa. Tiếng đồng tiền gõ cửa! Thấm bao nước mắt mồ hôi, tình đời cay đắng xót xa…”. Điệp khúc ấy trong vở cứ quặn thắt trái tim người xem cả khi đã rời nhà hát. Có thể nói, “Tiền và nghĩa” và “Kêu cứu” đậm đà màu sắc cải lương, “rất cải lương”, không hề pha tạp (một đặc điểm mà cải lương ngày nay không còn gìn giữ). Ngược lại, tiếng não nuột, thở than, khản giọng kêu cứu trước sự trái ngang lật lọng của cuộc đời giữa xã hội kim tiền, trong kịch thơ “Trắng hoa mai”, Đào Mộng Long lại không ngớt lời tụng ca sự vùng lên quyết liệt của những thân phận nô lệ.
Nhân vật chim Bạch Yến là tư tưởng lãng mạn mang khát vọng tự do vút lên trời cao: Đem tiếng hát đến với người đau khổ/ Mai đây sẽ không còn kẻ đè đầu cưỡi cổ/ Vĩnh viễn mùa xuân hạnh phúc thanh bình/ Cất cánh lên em, trời đã bình minh! Kịch phẩm khởi thảo từ năm 1962 khi đất nước còn chia cắt hai miền.
Nhưng cho đến tháng Chạp 1972, dưới tiếng bom gầm đạn réo của máy bay Mỹ tàn phá thủ đô, trong hầm trú ẩn nhà tập thể 50 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hà Nội, tác giả mới hoàn thành màn kết từ trái tim bốc lửa căm thù sự tàn bạo của cái ác. Vở “Trắng hoa mai” là tình ca huyền thoại nhưng chất chứa vấn đề lớn của thời đại: Khái vọng hòa bình. Nhân loại phải thương yêu nhau, đùm bọc nhau, không ỷ vào sức mạnh để tàn hại nhau.
Đào Mộng Long không sáng tác nhiều, nhưng bằng vào 3 tác phẩm kể trên để lại trong kho tang sân khấu nước nhà những viên ngọc quý cho người yêu dấu nâng niu…
Đoàn cải lương Nam Hồng diễn từ năm 1943 khắp miền Trung và miền Nam, sau này chỉnh sửa đặt tên là “Tiền và Nghĩa”. Đoàn cải lương Hải Phòng do chính tay ông dàn dựng diễn suốt từ năm 1957. Vở diễn cảnh báo lối sống trọng phú kinh bần, chạy theo địa vị giàu sang mà quên cả tình nghĩa quê hương, cha con, vợ chồng. Vở cải lương “Kêu cứu” viết năm 1952, đoàn cải lương Nam Hồng du diễn khắp Nam Bắc. Năm 1960 ông dàn dựng cho đoàn cải lương Phương Đông – Hải Phòng, mấy thế hệ diễn viên thành phố cảng gần hai chục năm đạt hơn 1.600 suất diễn.
Tác phẩm là lời kêu cứu đau đớn đến xé ruột trước sự tác oai tác quái của đồng tiền. “Tiếng đồng tiền gõ cửa. Tiếng đồng tiền gõ cửa! Thấm bao nước mắt mồ hôi, tình đời cay đắng xót xa…”. Điệp khúc ấy trong vở cứ quặn thắt trái tim người xem cả khi đã rời nhà hát. Có thể nói, “Tiền và nghĩa” và “Kêu cứu” đậm đà màu sắc cải lương, “rất cải lương”, không hề pha tạp (một đặc điểm mà cải lương ngày nay không còn gìn giữ). Ngược lại, tiếng não nuột, thở than, khản giọng kêu cứu trước sự trái ngang lật lọng của cuộc đời giữa xã hội kim tiền, trong kịch thơ “Trắng hoa mai”, Đào Mộng Long lại không ngớt lời tụng ca sự vùng lên quyết liệt của những thân phận nô lệ.
Nhân vật chim Bạch Yến là tư tưởng lãng mạn mang khát vọng tự do vút lên trời cao: Đem tiếng hát đến với người đau khổ/ Mai đây sẽ không còn kẻ đè đầu cưỡi cổ/ Vĩnh viễn mùa xuân hạnh phúc thanh bình/ Cất cánh lên em, trời đã bình minh! Kịch phẩm khởi thảo từ năm 1962 khi đất nước còn chia cắt hai miền.
Nhưng cho đến tháng Chạp 1972, dưới tiếng bom gầm đạn réo của máy bay Mỹ tàn phá thủ đô, trong hầm trú ẩn nhà tập thể 50 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hà Nội, tác giả mới hoàn thành màn kết từ trái tim bốc lửa căm thù sự tàn bạo của cái ác. Vở “Trắng hoa mai” là tình ca huyền thoại nhưng chất chứa vấn đề lớn của thời đại: Khái vọng hòa bình. Nhân loại phải thương yêu nhau, đùm bọc nhau, không ỷ vào sức mạnh để tàn hại nhau.
Đào Mộng Long không sáng tác nhiều, nhưng bằng vào 3 tác phẩm kể trên để lại trong kho tang sân khấu nước nhà những viên ngọc quý cho người yêu dấu nâng niu…
Đào Mộng Long là nghệ sĩ đa năng, nhưng cống hiến lớn nhất của ông cho nề kịch đương đại Việt Nam là nghệ thuật biểu diễn sân khấu. Trước hết là ca kịch cải lương.
Quê gốc ở xã Hội Thông, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, nằm ngay cạnh xã Tiên Điền – quê hương Nguyễn Du. Mới 8 tháng tuổi, cậu bé Long đã theo gia đình ra Nam Định. Tuổi thơ của bé Long tung tẩy trên hè phố Hàng Cót, Vị Xương – quê của thi sĩ tài hoa Tú Xương. Bà cô ruột của Long lấy em ruột Tú Xương. Ông thân sinh của Long là con trai cả, nổi tiếng là người bặt thiệp, đàn hay, mê hát ả đào.
Từ bé, cậu bé Long đã được cha dạy chơi đàn nguyệt, đàn bầu, thuộc làu những làn điệu hay nhất của tuồng, của cải lương. Đào Mộng Long còn có giọng hát hay, ngâm thơ rất truyền cảm, được thầy trò trường Nguyễn Trường Tộ ở thành Vinh khen ngợi. Những năm tháng cư ngụ ở Nghệ An đã tạo bước ngoặt cuộc đời Mộng Long. Nhà nghèo, 15 tuổi đã phải nghỉ học kiếm kế sinh nhai.
Với tư chất phiêu lưu, tài tử, không chịu ngồi yên với nghề làm ảnh, Mộng Long làm quen với các gánh hát cải lương, đánh đàn rồi làm kép nhỏ lang thang đây đó. Hết sang Lào lại trở về kẽo kẹt hết vùng đông bắc. Ghé vào hang Đầu Gỗ ở vịnh Hạ Long, chàng trai trẻ họ Đào đã khắc lên vách dòng chữ “Mộng Long – phiêu lưu – tài tử”, khi ấy chàng vừa tròn 18 tuổi.
Số phận run rủi, gia nhập gánh Phước Cương của nghệ sĩ tài danh Năm Châu - Ái Liên, rồi lại cùng Ái Liên lập gánh hát riêng, đi diễn khắp nước, sang cả Lào, cả Campuchia. Đào Mộng Long trải hết gánh hát này đến gánh hát khác, năm 1940 ông viết vở cải lương “Cha và con”. Gánh hát Bình Minh diễn vở đêm đầu tại Vinh, sang hôm sau Chánh Mật thám ra lệnh cấm diễn do vở “Cha và con” đã cố ý mạt sát người cộng tác với chính phủ Pháp, xúi thanh niên vào hội kín chống Pháp.
Nếu còn tiếp diễn cả người viết và chủ gánh hát sẽ bị bắt. Đào Mộng Long đổi tên vở thành “Dòng máu thanh niên”, gánh hát diễn ở Bắc Giang, Hà Đông. Chủ gánh hát và diễn viên chính bị chính quyền Pháp bỏ tù. Đào Mộng Long đến với gánh hát Nam Hồng vào diễn ở Sài Gòn và cách tỉnh đồng bằng Nam Bộ. Đúng lúc Đào Mộng Long cùng với gánh hát Nam Hồng lưu diễn tại Sài Gòn thì tiếng súng Nam Bộ kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Ông cùng các thành viên cải lương Nam Hồng xuống hào chiến đấu.
Vậy là Đào Mộng Long đã từ một mộng ước rất riêng, tiến đến thật tự nhiên, gắn bó với cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xân của nhân dân. Mộng Long nổi tiếng với các vai kép con trong những tuồng tích xã hội. Chính những năm “lăn lội” trên diễn trường cải lương đã tích tụ trong huyết quản người nghệ sĩ trình thức nghệ thuật sân khấu truyền thống. Biểu diễn tinh lọc, thể hiện cái thần của nhân vật. Bằng những động tác cơ thể, của cơ mặt, chân tay, ngữ điệu đài từ tinh xảo, vẽ nét tạo hình bản chất tính cách nhân vật. Các tố chất này đã tạo nên tinh hoa nghệ thuật biểu diễn kịch nói tuyệt vời của nhà nghệ sĩ lớn Đào Mộng Long.
Từ bé, cậu bé Long đã được cha dạy chơi đàn nguyệt, đàn bầu, thuộc làu những làn điệu hay nhất của tuồng, của cải lương. Đào Mộng Long còn có giọng hát hay, ngâm thơ rất truyền cảm, được thầy trò trường Nguyễn Trường Tộ ở thành Vinh khen ngợi. Những năm tháng cư ngụ ở Nghệ An đã tạo bước ngoặt cuộc đời Mộng Long. Nhà nghèo, 15 tuổi đã phải nghỉ học kiếm kế sinh nhai.
Với tư chất phiêu lưu, tài tử, không chịu ngồi yên với nghề làm ảnh, Mộng Long làm quen với các gánh hát cải lương, đánh đàn rồi làm kép nhỏ lang thang đây đó. Hết sang Lào lại trở về kẽo kẹt hết vùng đông bắc. Ghé vào hang Đầu Gỗ ở vịnh Hạ Long, chàng trai trẻ họ Đào đã khắc lên vách dòng chữ “Mộng Long – phiêu lưu – tài tử”, khi ấy chàng vừa tròn 18 tuổi.
Số phận run rủi, gia nhập gánh Phước Cương của nghệ sĩ tài danh Năm Châu - Ái Liên, rồi lại cùng Ái Liên lập gánh hát riêng, đi diễn khắp nước, sang cả Lào, cả Campuchia. Đào Mộng Long trải hết gánh hát này đến gánh hát khác, năm 1940 ông viết vở cải lương “Cha và con”. Gánh hát Bình Minh diễn vở đêm đầu tại Vinh, sang hôm sau Chánh Mật thám ra lệnh cấm diễn do vở “Cha và con” đã cố ý mạt sát người cộng tác với chính phủ Pháp, xúi thanh niên vào hội kín chống Pháp.
Nếu còn tiếp diễn cả người viết và chủ gánh hát sẽ bị bắt. Đào Mộng Long đổi tên vở thành “Dòng máu thanh niên”, gánh hát diễn ở Bắc Giang, Hà Đông. Chủ gánh hát và diễn viên chính bị chính quyền Pháp bỏ tù. Đào Mộng Long đến với gánh hát Nam Hồng vào diễn ở Sài Gòn và cách tỉnh đồng bằng Nam Bộ. Đúng lúc Đào Mộng Long cùng với gánh hát Nam Hồng lưu diễn tại Sài Gòn thì tiếng súng Nam Bộ kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Ông cùng các thành viên cải lương Nam Hồng xuống hào chiến đấu.
Vậy là Đào Mộng Long đã từ một mộng ước rất riêng, tiến đến thật tự nhiên, gắn bó với cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xân của nhân dân. Mộng Long nổi tiếng với các vai kép con trong những tuồng tích xã hội. Chính những năm “lăn lội” trên diễn trường cải lương đã tích tụ trong huyết quản người nghệ sĩ trình thức nghệ thuật sân khấu truyền thống. Biểu diễn tinh lọc, thể hiện cái thần của nhân vật. Bằng những động tác cơ thể, của cơ mặt, chân tay, ngữ điệu đài từ tinh xảo, vẽ nét tạo hình bản chất tính cách nhân vật. Các tố chất này đã tạo nên tinh hoa nghệ thuật biểu diễn kịch nói tuyệt vời của nhà nghệ sĩ lớn Đào Mộng Long.
Ông chuyển sang kịch nói tưởng như tình cờ nhưng thực chất ông đã được chuẩn bị những ngón nghề cao siêu của kịch hát dân tộc. Khi cuộc kháng chiến chông Pháp kết thúc, liên đoàn ca kịch khu 4 trở về thành phố và các địa phương. Nhiều kịch mục được trình diễn rộng rãi. Đơn vị trở thành hạt nhân, mô hình để chuyển đổi các phường gánh hát từ vùng địch vừa rút đi. Tài năng và nghệ thuật của Đào Mộng Long ở lĩnh vực cải lương càng được khẳng đinh.
Vào đúng lúc ấy, ông được rút khỏi cải lương và bổ sung cho kịch nói. Đào Mộng Long về đoàn kịch nhân dân TW, nay là Nhà hát kịch Việt Nam. Lạ thay, hình ảnh Đào Mộng Long lại sáng chói trên sân khấu kịch nói. Từ đây, trong quãng thời gian gân 20 năm là diễn viên đoàn kịch nói TW, vào vai nào Mộng Long cũng để lại trên sân khấu hình tượng độc đáo, sắc sảo, cực kỳ ấn tượng đến mức khán giả mới xem một lần đã không thể nào quên. Người dân công hăng hái chẳng biết sợ chết là gì trong “Tin chiến thắng Nghĩa Lộ”. Cụ Hồng kiên cường trong “Đầu sóng ngọn gió”.
Ông Lại “Lão nông tri điền” chất phác như đất đai ruộng đồng trong “Quê hương Việt Nam”. Rồi cụ Ba Bơ gương mặt sùng tín lúc nào cũng ngơ ngác trong “Bão biển”… và Chánh Tôn ranh ma độc địa trong kịch “Chị Hòa”, Mộng Long diễn thế nào mà có khán giả căm giận ném cả cục gạch lên sân khấu. Nhân vật người hát xẩm trong vở “Âm mưu và hậu quả” của tác giả Bửu Tiến là một trong những đỉnh cao của nghệ sĩ Đào Mộng Long thể hiện nhân vật người Việt Nam trong những kịch phẩm Việt Nam, thành tựu nghệ thuật mà không phải diễn viên kịch nói nào của xứ ta cũng đạt được.
Ông Lại “Lão nông tri điền” chất phác như đất đai ruộng đồng trong “Quê hương Việt Nam”. Rồi cụ Ba Bơ gương mặt sùng tín lúc nào cũng ngơ ngác trong “Bão biển”… và Chánh Tôn ranh ma độc địa trong kịch “Chị Hòa”, Mộng Long diễn thế nào mà có khán giả căm giận ném cả cục gạch lên sân khấu. Nhân vật người hát xẩm trong vở “Âm mưu và hậu quả” của tác giả Bửu Tiến là một trong những đỉnh cao của nghệ sĩ Đào Mộng Long thể hiện nhân vật người Việt Nam trong những kịch phẩm Việt Nam, thành tựu nghệ thuật mà không phải diễn viên kịch nói nào của xứ ta cũng đạt được.
Ở những vở diễn kịch bản nước ngoài, nhân vật nước ngoài xa lại bên trời Âu, Mộng Long cũng có những tuyệt đỉnh. Tên lưu manh quỷ quái Sia –rơ trong vở diễn Liu- ba xuất hiện trên sân khấu nhà hát Nhân dân (nay là Cung văn hóa hữu nghị) từ năm đầu thập niên 60 thế kỷ trước vẫn hằn sâu trong tâm trí thế hệ khán giả cao niên. Và Gôvodilin – tên tư sản xảo quyệt, thâm hiểm trong vở “Khúc thứ ba bi tráng” ra đời hơn 30 năm nay vẫn còn ám ảnh. Hắn là bóng ma điên rồ của cái ác, xấu xa, đê tiện. Gôvodilin gài bẫy anh Hồng quân Phêdo Đialốp (Trọng Khôi đóng), hối lộ người cộng sản trẻ tuổi của chính quyền Xô Viết hòng tẩu thoát. Ve vãn mồi chài chán chê hắn đặt giá: “Một bên là mấy cuốn sách của Mác, một bên là túi vàng kếch sù. Ở đây chỉ có hai người, không ai hay biết. Anh gật đầu, xẻ rách đệm kia, túi vàng sẽ thuộc về anh. Thế nào cậu em, đồng ý chứ”. Trả lời hắn là phát súng tử hình, kết liễu đời tên đồi bại.
Chỉ 15 phút độc diễn trong quầng sáng vàng đỏ bủa vây giữa sân khấu, “giấc mơ hối lộ” đã đưa nghệ thuật biểu diễn kịch nói lên đỉnh tuyệt kỹ. Sau đêm diễn thứ 25 “Khúc thứ ba bi tráng”, ông tâm sự: Đào Mộng Long diễn vai Gôvodilin không phải để cho khán giả xem Gôvodilin mà muốn trao gửi niềm khát khao với mọi người, hãy sống tốt đẹp hơn, cao thượng hơn. Lớp diễn thấm đẫm ý tưởng triết học qua câu nói nổi tiếng của Phuxich: “Hỡi loài người, hãy cảnh giác! Cảnh giác với tất cả cái gì là xấu xa, đê tiện, tàn ác trên trái đất này”. Thông điệp ấy vang lên trên sân khấu, rung động mạnh mẽ tâm thức bao khán giả
Chỉ 15 phút độc diễn trong quầng sáng vàng đỏ bủa vây giữa sân khấu, “giấc mơ hối lộ” đã đưa nghệ thuật biểu diễn kịch nói lên đỉnh tuyệt kỹ. Sau đêm diễn thứ 25 “Khúc thứ ba bi tráng”, ông tâm sự: Đào Mộng Long diễn vai Gôvodilin không phải để cho khán giả xem Gôvodilin mà muốn trao gửi niềm khát khao với mọi người, hãy sống tốt đẹp hơn, cao thượng hơn. Lớp diễn thấm đẫm ý tưởng triết học qua câu nói nổi tiếng của Phuxich: “Hỡi loài người, hãy cảnh giác! Cảnh giác với tất cả cái gì là xấu xa, đê tiện, tàn ác trên trái đất này”. Thông điệp ấy vang lên trên sân khấu, rung động mạnh mẽ tâm thức bao khán giả
Khi viết những dòng chữ này thì nhà nghệ sĩ được cả giới nghệ sĩ yêu mến, kính trọng, một bậc thầy lớn của sân khấu đã yên nghỉ trên đồi cao Thanh Tước. Nhớ về ông mà lòng người rung động. Cõi xa đã đón người nghệ sĩ lớn. Hơn 90 năm sống ở “cõi tạm” nơi trần thế, Đào Mộng Long đã dâng hiến tất cả tinh hoa cho cuộc đời với khát khao cháy bỏng, cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn, người biết yêu thương người hơn. Đó là tất cả những gì làm nên nghệ danh cao quý: Đào Mộng Long – người nghệ sĩ của nhân dân
NGND PHẠM THỊ THÀNH và NSƯT VŨ HÀ