Giải Kovalevskaia 2010: “Nghiệp” khoa học và ghế “nóng”
TS Nguyễn Thị Lộc: ... Đó là “nghiệp” khoa học
"Tôi xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo. Từ bé, tôi đã ước trở thành nhà khoa học, giúp người nông dân trồng trọt đạt năng suất cao hơn, để không còn ai vất vả như mẹ tôi. Tôi tự chọn “nghiệp” khoa học".
Không chọn nghiên cứu giống mà lại đi sâu vào vấn đề sâu bệnh và các chế phẩm sinh học, vì sao vậy, thưa chị?
Ngày đi thực tế ở Đồng bằng Sông Cửu Long, tôi thấy người dân dùng cả nước kênh mương chỉ được lắng phèn qua. Có nguồn nước nằm cạnh đám ruộng có sử dụng thuốc trừ sâu, phân hoá học, nhiều tồn dư độc hại. Vì vậy, tôi quyết định sẽ nghiên cứu ra những sản phẩm sinh học thay thế cho sản phẩm hoá học.
31 năm trong nghề, kỷ niệm nào khiến chị nhớ nhất?
Đó là chuyến đi giảng bài chuyển giao khoa học cho người dân tộc Khmer ở tỉnh Kiên Giang. Vì họ không biết tiếng Kinh nên một lão nông phải phiên dịch lại lời tôi cho bà con nông dân cùng hiểu.
Bất ngờ, người phiên dịch dịch lời một người dân ở đây và nói lại với tôi: “Quy trình sản xuất chế phẩm nấm xanh của Tiến sĩ Lộc dễ lắm, tôi không biết tiếng nhưng cũng làm được”.
Ai là người có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến cuộc đời, cũng như những chặng đường nghiên cứu của chị?
Mẹ tôi là người có ảnh hưởng lớn nhất đến cuộc đời tôi. Sự vất vả, cần mẫn của mẹ là động lực thôi thúc trên mỗi chặng đường nghiên cứu khoa học.
Nghĩ về mẹ, tôi lại suy nghĩ đến hình ảnh người nông dân nào cũng phải vất vả như mẹ mình. Do đó, làm cho người nông dân hạnh phúc thì đó cũng chính là hạnh phúc của bản thân tôi.
Với chị, gia đình là…?
Gia đình luôn là chốn bình yên nơi tôi quay về mỗi khi mệt mỏi, căng thẳng.
Công việc nghiên cứu tốn rất nhiều thời gian và phải thường xuyên đi công tác, bằng cách nào chị cân bằng giữa gia đình và công việc?
Tôi luôn luôn tự đặt ra một lịch trình, thời khóa biểu khoa học. Tôi luôn là người nấu bữa tối, và chủ nhật nào cũng tổ chức "cải thiện" cho chồng và hai con. Dù có phải làm việc khuya hơn nhưng lúc nào tôi cũng có thời gian dành cho gia đình.
PGS.TS Lương Chi Mai: May mắn được ngồi ghế « nóng »
"Được làm việc tại Phòng nhận dạng và công nghệ tri thức của Viện Tính toán và điều khiển (nay thuộc Viện Công nghệ thông tin thuộc Bộ Khoa học công nghệ thông tin Việt Nam), một trung tâm khá “nóng” của giới nghiên cứu, tôi có điều kiện để học hỏi, trao đổi và thể hiện năng lực của bản thân".
VnDOCR là thành tựu của năm 1998. Hiện đã là năm 2011. Vậy sản phẩm này có gì “thời sự” đối với hiện tại, thưa chị?
Theo tôi, điều quan trọng không phải lao tâm khổ tứ bao nhiêu năm để cho ra một sản phẩm mà là sản phẩm đó sẽ sống được bao nhiêu năm.
Chúng tôi vẫn tiếp tục phát triển VnDOCR cùng những công trình nghiên cứu khoa học khác về vấn đề nhận dạng trong môi trường tiếng Việt.
Tôi cho rằng, VnDOCR có khai thác cả đời cũng không tự thoả mãn hết những yêu cầu mà người sử dụng đặt ra.
Còn những công trình nghiên cứu nào mà tự chị thấy hài lòng?
Hiện nay tôi có 48 công trình về nhận dạng và tất cả đều đang được sử dụng. Ví dụ một số đề tài như: Nghiên cứu các phương pháp tăng hiệu quả nhận dạng và ứng dụng trong phân tích xử lý dữ liệu viễn thám, nhận dạng quặng; nghiên cứu các thuật toán phân lớp trên cơ sở dữ liệu không gian; Nghiên cứu phát triển dịch tiếng nói hai chiều Việt – Anh, Anh-Việt có định hướng lĩnh vực”; “Đề tài nghiên cứu và phát triển một số sản phẩm thiết yếu về xử lý tiếng nói và văn bản tiếng Việt”…
Hiện nay các đề tài liên quan tới nhận dạng tiếng Việt đang bước đầu được ứng dụng phổ biến trong các văn phòng, các cuộc hội thảo giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho các buổi hội thảo…
Trước mắt tôi dự định sẽ xây dựng một nhóm có chức năng marketing, họ sẽ là đầu mối tìm kiếm các đơn đặt hàng cho bộ phận nghiên cứu. Điều làm tôi luôn tin tưởng lĩnh vực nghiên cứu này sẽ phát triển bởi Viện có đội ngũ nghiên cứu trẻ luôn cùng làm việc rất say mê trong mọi giai đoạn, nhiều lúc còn quên ăn quên ngủ.
Nhiều người vẫn nghĩ phụ nữ làm khoa học sẽ không có sự cân bằng giữa công việc và gia đình?
Tôi cho rằng đấy cũng là những khó khăn chung mà nhiều người phụ nữ trí thức khác đang phải đối mặt.
Bản thân tôi thấy cũng có may mắn vì được sống trong một gia đình trí thức rất ủng hộ và biết san sẻ công việc gia đình và công việc nghiên cứu.
Lĩnh vực nghiên cứu khoa học về công nghệ thông tin vốn được xem là lĩnh vực nghiên cứu của nam giới. Chị có nghĩ thế nào về tác động của giới tính tới công việc?
Tôi cho rằng đã là khoa học phải công bằng. Nếu liên quan đến sức khoẻ thì nữ giới có thể được ưu ái.
Còn trong khoa học hay bất cứ ngành nào, phụ nữ cũng cần phải cố gắng, nỗ lực để kết quả thể hiện đúng năng lực của bản thân.
Lê Huyền – Nguyệt Minh (thực hiện)
Theo bee.net.vn
"Tôi xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo. Từ bé, tôi đã ước trở thành nhà khoa học, giúp người nông dân trồng trọt đạt năng suất cao hơn, để không còn ai vất vả như mẹ tôi. Tôi tự chọn “nghiệp” khoa học".
Không chọn nghiên cứu giống mà lại đi sâu vào vấn đề sâu bệnh và các chế phẩm sinh học, vì sao vậy, thưa chị?
Ngày đi thực tế ở Đồng bằng Sông Cửu Long, tôi thấy người dân dùng cả nước kênh mương chỉ được lắng phèn qua. Có nguồn nước nằm cạnh đám ruộng có sử dụng thuốc trừ sâu, phân hoá học, nhiều tồn dư độc hại. Vì vậy, tôi quyết định sẽ nghiên cứu ra những sản phẩm sinh học thay thế cho sản phẩm hoá học.
31 năm trong nghề, kỷ niệm nào khiến chị nhớ nhất?
Đó là chuyến đi giảng bài chuyển giao khoa học cho người dân tộc Khmer ở tỉnh Kiên Giang. Vì họ không biết tiếng Kinh nên một lão nông phải phiên dịch lại lời tôi cho bà con nông dân cùng hiểu.
Bất ngờ, người phiên dịch dịch lời một người dân ở đây và nói lại với tôi: “Quy trình sản xuất chế phẩm nấm xanh của Tiến sĩ Lộc dễ lắm, tôi không biết tiếng nhưng cũng làm được”.
![]() |
| Bà Lương Chi Mai và Nguyễn Thị Lộc (thứ 2 và thứ 3 từ trái sang) tại Lễ trao giải thưởng |
Ai là người có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến cuộc đời, cũng như những chặng đường nghiên cứu của chị?
Mẹ tôi là người có ảnh hưởng lớn nhất đến cuộc đời tôi. Sự vất vả, cần mẫn của mẹ là động lực thôi thúc trên mỗi chặng đường nghiên cứu khoa học.
Nghĩ về mẹ, tôi lại suy nghĩ đến hình ảnh người nông dân nào cũng phải vất vả như mẹ mình. Do đó, làm cho người nông dân hạnh phúc thì đó cũng chính là hạnh phúc của bản thân tôi.
Với chị, gia đình là…?
Gia đình luôn là chốn bình yên nơi tôi quay về mỗi khi mệt mỏi, căng thẳng.
Công việc nghiên cứu tốn rất nhiều thời gian và phải thường xuyên đi công tác, bằng cách nào chị cân bằng giữa gia đình và công việc?
Tôi luôn luôn tự đặt ra một lịch trình, thời khóa biểu khoa học. Tôi luôn là người nấu bữa tối, và chủ nhật nào cũng tổ chức "cải thiện" cho chồng và hai con. Dù có phải làm việc khuya hơn nhưng lúc nào tôi cũng có thời gian dành cho gia đình.
PGS.TS Lương Chi Mai: May mắn được ngồi ghế « nóng »
"Được làm việc tại Phòng nhận dạng và công nghệ tri thức của Viện Tính toán và điều khiển (nay thuộc Viện Công nghệ thông tin thuộc Bộ Khoa học công nghệ thông tin Việt Nam), một trung tâm khá “nóng” của giới nghiên cứu, tôi có điều kiện để học hỏi, trao đổi và thể hiện năng lực của bản thân".
VnDOCR là thành tựu của năm 1998. Hiện đã là năm 2011. Vậy sản phẩm này có gì “thời sự” đối với hiện tại, thưa chị?
Theo tôi, điều quan trọng không phải lao tâm khổ tứ bao nhiêu năm để cho ra một sản phẩm mà là sản phẩm đó sẽ sống được bao nhiêu năm.
Chúng tôi vẫn tiếp tục phát triển VnDOCR cùng những công trình nghiên cứu khoa học khác về vấn đề nhận dạng trong môi trường tiếng Việt.
Tôi cho rằng, VnDOCR có khai thác cả đời cũng không tự thoả mãn hết những yêu cầu mà người sử dụng đặt ra.
Còn những công trình nghiên cứu nào mà tự chị thấy hài lòng?
Hiện nay tôi có 48 công trình về nhận dạng và tất cả đều đang được sử dụng. Ví dụ một số đề tài như: Nghiên cứu các phương pháp tăng hiệu quả nhận dạng và ứng dụng trong phân tích xử lý dữ liệu viễn thám, nhận dạng quặng; nghiên cứu các thuật toán phân lớp trên cơ sở dữ liệu không gian; Nghiên cứu phát triển dịch tiếng nói hai chiều Việt – Anh, Anh-Việt có định hướng lĩnh vực”; “Đề tài nghiên cứu và phát triển một số sản phẩm thiết yếu về xử lý tiếng nói và văn bản tiếng Việt”…
Hiện nay các đề tài liên quan tới nhận dạng tiếng Việt đang bước đầu được ứng dụng phổ biến trong các văn phòng, các cuộc hội thảo giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho các buổi hội thảo…
Trước mắt tôi dự định sẽ xây dựng một nhóm có chức năng marketing, họ sẽ là đầu mối tìm kiếm các đơn đặt hàng cho bộ phận nghiên cứu. Điều làm tôi luôn tin tưởng lĩnh vực nghiên cứu này sẽ phát triển bởi Viện có đội ngũ nghiên cứu trẻ luôn cùng làm việc rất say mê trong mọi giai đoạn, nhiều lúc còn quên ăn quên ngủ.
Nhiều người vẫn nghĩ phụ nữ làm khoa học sẽ không có sự cân bằng giữa công việc và gia đình?
Tôi cho rằng đấy cũng là những khó khăn chung mà nhiều người phụ nữ trí thức khác đang phải đối mặt.
Bản thân tôi thấy cũng có may mắn vì được sống trong một gia đình trí thức rất ủng hộ và biết san sẻ công việc gia đình và công việc nghiên cứu.
Lĩnh vực nghiên cứu khoa học về công nghệ thông tin vốn được xem là lĩnh vực nghiên cứu của nam giới. Chị có nghĩ thế nào về tác động của giới tính tới công việc?
Tôi cho rằng đã là khoa học phải công bằng. Nếu liên quan đến sức khoẻ thì nữ giới có thể được ưu ái.
Còn trong khoa học hay bất cứ ngành nào, phụ nữ cũng cần phải cố gắng, nỗ lực để kết quả thể hiện đúng năng lực của bản thân.
Lê Huyền – Nguyệt Minh (thực hiện)
Theo bee.net.vn
