Anh hùng liệt sĩ Đào Vũ Lộ
Năm 1925, mới 16 tuổi, học tại trường Thành Chung – Nam Định, được tiếp xúc với các vị tiền bối cách mạng… Đào Vũ Lộ đã tích cực tham gia tuyên truyền tinh thần yêu nước trong thanh niên học sinh.
Tháng 3 năm 1926, học sinh Đào Vũ Lộ tham gia vào lễ tang cụ Phan Chu Trinh, nên đã bị thực dân Pháp bắt và đuổi học.
Năm 1930, ông đã cùng các ông Đang, ông Viễn treo ba lá cờ trên ba ngọn đa Đông Đanh – Trực Nội – Đống Nhân và rải truyền đơn trên đường tuyên truyền cách mạng.
Năm 1936-1937, ông mở hiệu sách báo và dụng cụ thể dục thể thao, trong đó có bán sách báo cách mạng thu hút thanh niên, học sinh đến tập võ, giác ngộ họ đi theo cách mạng. Mật thám phát hiện bắt phải đóng cửa.
Năm 1938-1943, làm công nhân ở mỏ than Hồng Gai, tuyên truyền cách mạng trong công nhân; đòi tăng lương, giảm giờ làm, phẩn đối bóc lột và đánh đập công nhân. Ông bị bắt, sau trốn ra được về Hà Nội.
Năm 1943-1944, ông bị đi lính, nhưng chủ nghĩa yêu nước vốn đã sẵn có trong ông, lại càng hun đúc thêm. Những năm đó, ông đã dành tiền và tìm cách để mua sắm vũ khí, cất giấu, chuẩn bị đóng góp cho cách mạng.
Tháng 3-1945, Nhật đảo chính Pháp, ông đã nhanh chóng về Sơn Tây, vận động binh lính người Việt bỏ về với cách mạng.
Tháng 7-1945, ông đã hiên ngang vào sào huyệt của bọn Đại Việt, có phái viên ở Hà Nội về dự, biến cuộc họp của Đại Việt thành diễn đàn tuyên truyền cách mạng. Từ đó lôi kéo được nhiều thanh niên ở thị xã Thái Bình, và các huyên Vũ Tiên – Thư Trì tỉnh ngộ về với cách mạng.
Trở về với Cách mạng, tháng 8-1945, ông đã cùng các lực lượng giành chính quyền ở Thị xã Thái Bình. Từ đó ông tham gia quân đội.
Năm 1947, ông được đề bạt từ Đại đội trưởng lên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn cảnh vệ của tỉnh đội Thái Bình, lực lượng nòng cốt đầu tiên của lực lượng nòng cốt đầu tiên của lực lượng vũ trang Thái Bình; là người đầu tiên trang bị vũ khí, người huấn luyện kỹ thuật và chiến đấu cho tiểu đoàn này. Ông còn có công lớn trong việc xây dựng Đại đội Hoa Lư, Đại đội 4 Trần Quốc Tuấn, đơn vị chủ lực đầu tiên của bộ đội Thái Bình.
Ông được ghi nhận là một trong những cán bộ chỉ huy có tài năng, lại trục tiếp chiến đấu giỏi. Với tài bắn súng đặc biệt, có kỹ thuật tác chiến quân sự, ông có ảnh hưởng mạnh mẽ trong nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ. Ông còn phát huy tốt khả năng, thể thao, tác phong lễ phép, khuôn phép vốn có, trong công tác địch vận ở khu vực Thị xã.
Khoảng từ năm 1948, ông làm Trưởng ban tiếp tế (hậu cần) của Tỉnh đội. Với trách nhiệm này, ông đã luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Ông tham gia chỉ huy tiêu thổ kháng chiến ở Thị xã Thái Bình, đào hầm, đắp ụ, đào tường thông các nhà trong phố, dựng chiến lũy trên đường, vận động nhân dân tản cư, thực hiện “vườn không nhà trống”.
Ông dẫn đơn vị luồn sâu vào đất Nam Định, đánh bốt nhà Tế Bần-bốt Quán Chuột do bọn lính com-măng-đô chiếm đóng, thu được nhiều vũ khí, tiêu diệt nhiều địch.
Năm 1952, ông bị địch bắt trong khi đang chỉ huy bộ đội, dân quân du kích chống lại trận càn “Trái Quýt” của địch ở Thái Bình. Bọn địch đưa ông từ Căng chợ Bo về Phong Nhì nhà thờ rồi đưa vào cùm kẹp giam giữ ở nhà giam Chùa Tiền.
Biết ông là người có uy tín, có tài thao lược, bọn địch tìm mọi thủ đoạn để mua chuộc dụ dỗ. Bọn chúng đưa ông vào dinh Tỉnh trưởng, chiêu đãi thịnh soạn, tặng quần áo, quà bánh. Chúng còn mời cả Thủ hiến Bắc Việt về dụ dỗ hứa hẹn thăng quan tiến chức cho ông cao hơn chức vụ Cách mạng ông đang nắm giữ, ưu đãi lương bổng cho vợ con ông. Ông nhất quyết không chấp nhận. Ông bình thản lấy chai nước lã, nắm cơm gạo đỏ ra ăn uống một cách ngon lành. Không những thế, ông còn vạch mặt bọn bán nước làm tay sai cho giặc, gieo tội ác với nhân dân… Bọn địch lại đưa giám mục vào mua chuộc. Ông đã khuyên vị giám mục hãy trở lại nhà thờ để chăn dắt con chiên, làm tròn sứ mạng “kính Chúa yêu nước” đừng như những kẻ đội lốt tôn giáo làm tay sai phản quốc. Chúng còn đưa tên Bửu Lộc từ Pháp về úy lạo, nhưng ông nhất định không nhận quà, hàng của chúng.
Thất bại trong âm mưu mua chuộc, dụ dỗ, địch giở ngón đòn tra tấn, chúng cùm kẹp chân tay ông 24/24 giờ, lúc nào cũng có hai tên lính lê tuốt trần canh gác. Chúng dùng tất cả các hình thức, kỹ thuật tra tấn của nhà tù đế quốc với ông. Hàng trăm trận đòn tàn bạo đã trút xuống thân thể người tù Đào Vũ Lộ. Chúng đánh gãy gần hết hai hàm răng của ông, đánh tới mức lồi mắt, gẫy xương sườn, dập phổi, ho và đại tiện ra máu. Ông chết đi sống lại nhiều lần. Dù thế, ông không hề nao núng. Ông đã chửi vào mặt bọn giặc: “Ta là chiến sĩ cách mạng, có nghĩa là diệt bon thực dân Pháp xâm lược. Chúng mày không khuất phục được tao đâu, chúng mày có bắn chết tao cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng”. Khi bọn địch hỏi: “Nếu thả ông ra ông sẽ làm gì?”. Ông trả lời: “Nếu thoát khỏi đây, tao lại tiếp tục cầm súng bắn vào bọn bán nước và cướp nước”.
Chúng lại tiếp tục tra tấn ông. Những buổi ông quá đau đớn, vì chịu các cực hình tra tấn, không nhai nuốt được, ông thường cố gắng chia nhỏ khẩu phần ăn của mình cho các đồng chí khác. Các đồng chí bị giam cùng phòng với ông thường phải chiều theo tình cảm của ông nhận chút khẩu phần nhỏ nhoi này, mong cho người đồng chí yêu quý đang đau đớn khôn cùng vui lòng, để xoa dịu bớt vết thương thể xác cho ông.
Ảnh hưởng của Đào Vũ Lộ nhanh chóng lan ra trong tất cả các anh chị em, đồng chí, bạn tù của ông. Mỗi người, mỗi cách đều trực tiếp thường xuyên tỏ lòng kính phục, tự hào và ngưỡng mộ. Nhiều lần, khi biết đang đêm bọn cai tù đến lôi ông đi tra tấn, dụ dỗ, tất cả tù nhân gọi nhau thức dậy và đồng thanh hô khẩu hiệu phản đối.
Ngày 28/4/1952, địch lại đưa ông vào dinh Tỉnh trưởng thuyết phục một lần nữa. Ông kiên quyết đấu tranh đến cùng. Bọn giặc hèn hạ đã đem ông đi thủ tiêu. Trong đêm tối, chúng buộc đá vào chân ông, dong ông ra khoang cầu Bo thứ 2 để bắn.
Ông hô lớn: “Nước Việt Nam muôn năm. Hồ Chủ tịch muôn năm”.
Tiếng hô vang vọng dọc đôi bờ Trà Lý như xé tan màn đêm đen tối. Rồi hàng loạt tiếng súng nổ.Người Tỉnh đội phó Anh hùng Đào Vũ Lộ đã ngã xuống lòng sông đất mẹ Thái Bình.
Sự hy sinh dũng cảm kiên cường trước mũi súng của kẻ thù đã thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với nước, với dân và Quân đội nhân dân.
Với thành tích to lớn trong chiến đấu, xây dựng quân đội và gương hy sinh anh dũng liệt sĩ Đào Vũ Lộ đã được Đảng và Nhà nước đánh giá cao và ngày 10 tháng 4 năm 2001, Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam quyết định truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Tổng hợp theo tư liệu Anh hùng liệt sỹ Đào Vũ Lộ.